Bảng quảng cáo
Vietnamese Afrikaans Albanian Arabic Belarusian Bulgarian Catalan Chinese (Traditional) Croatian Czech Danish Dutch English Estonian Filipino Finnish French Galician German Greek Hebrew Hindi Hungarian Icelandic Indonesian Irish Italian Japanese Korean Latvian Lithuanian Macedonian Malay Maltese Norwegian Persian Polish Portuguese Romanian Russian Serbian Slovak Slovenian Spanish Swahili Swedish Thai Turkish Ukrainian Welsh

Ấn Độ: Hậu quả của “cơn khát” con trai

PDF.InEmail

Hầu hết các nghiên cứu về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh (số trẻ nam sinh ra trên 100 trẻ nữ - GTKS) trên thế giới đều chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân căn bản của tình trạng này là sự ưa thích con trai.

Ấn Độ - Một quốc gia rộng lớn ở Nam Á, một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại với sự đa dạng về tôn giáo và sắc tộc cũng không ngoại lệ.

Đối mặt

Quốc gia Nam Á này cùng với số ít các quốc gia khác trên thế giới đang phải đối mặt với vấn đề mất cân bằng GTKS. Điều tra Sức khỏe Gia đình toàn quốc (NFHS) giai đoạn 1987-1991 cho thấy GTKS của Ấn Độ là 106.3. Tỷ số này ngày càng tăng lên và đến giai đoạn 2004 là 108.8, vượt ngưỡng an toàn (103-107)¡ và rơi vào tình trạng mất cân bằng.

Tỷ số GTKS của Ấn Độ qua các kỳ điều tra NFHS từ 1987 đến 2004.

Điều tra NFHS-3 (2000-2004) của Ấn Độ cho thấy: Có 18 trong tổng số 29 bang có tỷ số GTKS cao hơn mức 106 như các bang: Maharashtra, Rajasthan, Andhra Pradesh, Gujarat, Uttar Pradesh,… Trong đó tại một số bang tỷ số này rất cao như: Punjab: 137.4; Haryana: 132.3;

11 bang còn lại, tỷ số GTKS dưới 106, chủ yếu tại vùng Đông Bắc và miền Trung Ấn Độ như các bang: Sikkim, Assam, Arunachal Pradesh, Manipur, Nagaland, Jharkhand, Madhya Pradesh,…

Bản đồ GTKS các bang Ấn Độ, NFHS-3 (2000-2004)

Xu hướng giảm sinh đã tác động đến GTKS của Ấn Độ. Tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ) của Ấn Độ đã giảm từ 3.2 (Tổng điều tra năm 1991) xuống còn 2.7 (Tổng điều tra 2001).

GTKS theo số lần sinh qua các kỳ NFHS, 1987-2004.

GTKS ở các lần sinh 1,2,3 (số con trung bình của một phụ nữ Ấn Độ năm 2001 là 2.7) khác hẳn so với GTKS ở các lần sinh từ lần thứ 4 trở đi. GTKS ở các lần sinh từ lần thứ 4 đến lần thứ 7 trở lên dao động trong khoảng 91.4 đến 108.8 và số lần sinh càng lớn thì chỉ số này càng giảm.
Tuy nhiên, GTKS ở các lần từ 1 đến 3 lại tăng lên và luôn ở mức mất cân bằng (khoảng chuẩn là 103-107, đã dẫn). GTKS ở lần 2 luôn cao hơn lần thứ nhất và lần thứ 3. Điều đó cho thấy các bà mẹ thường lựa chọn giới tính của con sau khi biết được giới tính của đứa trẻ lần đầu.

Công nghệ kỹ thuật bị lạm dụng

Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng mạnh đến GTKS là việc sử dụng công nghệ kỹ thuật để xác định giới tính thai nhi, trong đó, siêu âm là chủ yếu.

GTKS theo tình trạng kinh tế và siêu âm hay không siêu âm, NFHS-3.

Theo điều tra: Tại Ấn Độ, GTKS ở những trường hợp không siêu âm trong thời kỳ mang thai thấp hơn rất nhiều so với những trường hợp có siêu âm dù là người “rất nghèo” hay là người “rất giàu” (GTKS của tổng các trường hợp (không phân biệt hoàn cảnh kinh tế) không siêu âm là 106.9 và có siêu âm là 116). Như vậy, GTKS của tổng các trường hợp không siêu âm ở ngưỡng an toàn (104-107) còn GTKS của tổng các trường hợp có siêu âm thì ở mức mất cân bằng.

Ở quốc gia này, 24% tổng số các bà bầu trong 5 năm điều tra NFHS-3 đã siêu âm khi mang thai (2007). Điều tra NFHS-3 cũng chỉ ra rằng các bà bầu có điều kiện kinh tế tốt hơn thì tỷ lệ sử dụng siêu âm cũng cao hơn. Tỷ lệ này tăng từ 4% và 10% ở nhóm bà mẹ có hoàn cảnh kinh tế “rất nghèo” và “nghèo” lên 21% và 38% ở nhóm các bà mẹ có hoàn cảnh kinh tế “trung bình” và “khá”. Ở nhóm “rất giàu” thì tỷ lệ này cũng cao nhất là 62%.

Tỷ lệ siêu âm càng cao thì tỷ lệ biết được giới tính của thai nhi càng cao và đương nhiên tỷ lệ lựa chọn giới tính khi sinh cũng càng cao. GTKS của nhóm “rất giàu” và “khá” cao hơn hẳn so với các nhóm khác. Do điều kiện kinh tế ở 2 nhóm này cao hơn những nhóm khác nên cơ hội để nhóm này tiếp cận và sử dụng dịch vụ siêu âm cũng cao hơn so với các nhóm khác. Chính vì thế, ở nhóm “rất giàu” có tới 62% các bà mẹ đi siêu âm trong thời kỳ mang thai và GTKS của nhóm này cũng cao nhất: 122.2.

GTKS phân theo tình trạng kinh tế của bà mẹ, NFHS-3.

Khi trình độ học vấn của phụ nữ nâng cao

 

Không chỉ có tình trạng kinh tế của bà mẹ liên quan đến GTKS mà trình độ học vấn của họ cũng liên quan chặt chẽ tới việc sử dụng dịch vụ siêu âm và ảnh hưởng tới GTKS.

Các nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ siêu âm tăng theo trình độ học vấn của các bà mẹ. Nếu như chỉ có 9% các bà mẹ thất học sử dụng dịch vụ siêu âm thì có tới 58% các bà mẹ có trình độ học vấn từ lớp 10 trở lên sử dụng dịch vụ đó.

GTKS theo trình độ học vấn của bà mẹ, NFHS-3

GTKS đối với những trường hợp bà mẹ sử dụng siêu âm cao hơn rất nhiều và luôn ở mức mất cân bằng so với các bà mẹ không sử dụng dịch vụ siêu âm mà không phụ thuộc vào trình độ học vấn. Tuy nhiên, đối với trường hợp các bà mẹ không sử dụng dịch vụ siêu âm thì GTKS của các bà mẹ có trình độ học vấn cao (từ lớp 10+) lại luôn cao hơn các bà mẹ có trình độ hoặc vấn thấp hơn và ở mức mất cân bằng (115).

Như vậy, GTKS tăng cao ở những đối tượng có điều kiện kinh tế khá giả và trình độ học vấn cao và đặc biệt là ở những người có sử dụng siêu âm trong thời kỳ mang thai.
Mặc dù, Ấn Độ cũng là quốc gia nghiêm cấm việc sử dụng siêu âm để xác định giới tính thai nhi, nghiêm cấm việc nạo phá thai để lựa chọn giới tính nhưng với sự ưa thích con trai hay bất bình đẳng giới còn cao trong xã hội và với việc sử dụng các kỹ thuật hiện đại để xác định giới tính thai nhi đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng GTKS ngày càng tăng hiện nay ở Ấn Độ. Tình trạng này sẽ dẫn đến những tác động khôn lường cho xã hội.

 

 

 

Lương Quang Đảng

 

Nguồn Giadinh.net.vn

 

Cập nhật tin tức mới qua Email của bạn

Vui lòng mở email của bạn để kích hoạt tài khoản sau khi "Xác nhận"


Tin mới


Web Reference - Business Directory - Related Articles - Sitemap